- Bài viết
- 7.219
- Được Like
- 11
'Giảng đường Việt là bể nhân tài bán dẫn chất lượng'
Lĩnh vực bán dẫn cần có sự thực chiến từ giảng đường với sinh viên và giảng viên là nòng cốt, doanh nghiệp hỗ trợ, theo TS Nguyễn Văn Thái.
TS Nguyễn Văn Thái, nhà sáng lập và CEO AIoT-Semiconductor, công ty nghiên cứu thiết kế chip và phát triển giải pháp phần cứng công nghệ cao. Ông cũng là giảng viên và đảm nhiệm một số vai trò chuyên trách về bán dẫn tại Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM (HCM-UTE). TS Thái chia sẻ với VnExpress về vai trò của sinh viên, giảng viên khi tham gia nghiên cứu, sáng chế và thương mại hóa sản phẩm dựa trên nhu cầu doanh nghiệp.
- Vì sao AIoT Semiconductor chọn hướng thương mại hóa nghiên cứu từ trường học? Câu chuyện bắt đầu từ đâu?
- Chúng tôi không phải đơn vị "đi khắp các trường" để tìm kiếm sáng chế rồi đem đi thương mại hóa, mà bắt đầu từ chính nhu cầu thực tế giữa doanh nghiệp - nhà trường. Rất nhiều công ty có bài toán về AI, IoT, bán dẫn nhưng chưa có đội ngũ R&D để giải quyết. Trong khi đó, nhiều trường đại học, chẳng hạn HCM-UTE có đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên rất giỏi lý thuyết nhưng thiếu cơ hội chạm vào vấn đề thực tế.
AIoT-Semiconductor ra đời năm 2014, ban đầu tên 3DVisionLab, Đến 2024, công ty đổi sang tên hiện tại và thuộc HCM-UTE. Chúng tôi đóng vai trò trung gian kết nối và thực thi: nhận bài toán đặt hàng với nhu cầu thực tiễn từ doanh nghiệp, đưa vào phòng thí nghiệm để cùng giảng viên, kỹ sư, sinh viên giải quyết. Sản phẩm tạo ra từ các đề tài này giúp giải bài toán doanh nghiệp và được thương mại hóa ngay trên thị trường đó, vừa giúp nghiên cứu đi vào thực tế, vừa tạo nguồn thu và cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Công ty lựa chọn đề tài, sáng chế tiềm năng từ sinh viên và giảng viên thế nào?
- Có hai kịch bản. Sinh viên hoặc giảng viên có đề tài nghiên cứu, nếu vô tình trùng hoặc gần với nhu cầu thực tế doanh nghiệp đối tác đang tìm kiếm, chúng tôi đứng ra làm cầu nối tiếp nhận và hoàn thiện ý tưởng.
Kịch bản thứ hai phổ biến hơn: doanh nghiệp có bài toán thực tế và đặt hàng. Chúng tôi sẽ huy động nhân lực để hoàn thiện sản phẩm theo yêu cầu kỹ thuật, độ ổn định, chi phí sản xuất, thời gian hoàn thành trước khi bàn giao. Doanh nghiệp là bên chủ động tự thương mại hóa sản phẩm hoặc tích hợp vào hệ thống của họ.
Chúng tôi đã phát triển và chuyển giao thành công hơn 40 sản phẩm, giải pháp, dự án R&D cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, ứng dụng đa dạng lĩnh vực, như bán dẫn và kiểm thử IC, vi xử lý lõi mở RISC-V, vi điều khiển công nghiệp và HVAC, năng lượng, nông nghiệp thông minh, giáo dục, y tế.
Một sản phẩm khác đã được chuyển giao và được doanh nghiệp đưa ra thị trường là bo mạch điều khiển cho hệ thống thiết bị phòng thí nghiệm, y sinh của LABone. Chúng tôi đã hợp tác trong thời gian dài để tạo bo mạch điều khiển, firmware và phần mềm cho nhiều dòng sản phẩm với tính chuyên môn cao, yêu cầu độ chính xác và ổn định lớn.
- Thuận lợi và khó khăn khi phát triển và hoàn thiện sản phẩm là gì?
- Nguồn lực con người dồi dào từ chính môi trường HCM-UTE là yếu tố thuận lợi, với đội ngũ giảng viên chuyên môn sâu, giàu kinh nghiệm, sẵn sàng đồng hành cùng dự án thực tế, sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học, nhiều em rất giỏi và quyết tâm làm việc trên những bài toán thực của doanh nghiệp.
Không chỉ HCM-UTE, tôi tin các giảng đường tại Việt Nam đang có những "bể nhân tài" - nguồn nhân lực chất lượng cao để vừa đào tạo, nghiên cứu, vừa sản xuất ra những sản phẩm chất lượng.
Khó khăn cũng rất nhiều. Chúng tôi thiếu nguồn cung linh kiện điện tử chính hãng. Các dòng chip, vi điều khiển, IC chuyên dụng thường xuyên thiếu hàng, thời gian chờ có khi đến 6-12 tháng, trong khi chưa có công ty nào ở Việt Nam cung cấp đầy đủ tất cả danh mục linh kiện điện tử chính hãng.
Hệ quả là thời gian phát triển sản phẩm kéo dài hơn dự kiến, chi phí phát sinh do phải nhập linh kiện lẻ, thậm chí tạm dừng giữa chừng do thiếu linh kiện thay thế.
- Đâu là khoảng cách lớn nhất giữa một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và một sản phẩm có thể đưa ra thị trường?
- Vấn đề lớn nhất liên quan đến "nghiên cứu để công bố" và "nghiên cứu để sản xuất được". Có nhiều đề tài hoạt động tốt trong phòng lab sau 3-5 lần nghiệm thu, nhưng khi gắn vào hệ thống thực tế lại "chết ngay" vì nhiễu, vì nguồn, vì tay người dùng không đúng quy trình.
Với chi phí và linh kiện, ở phòng thí nghiệm, linh kiện sử dụng đạt tiêu chuẩn cao, nhưng bài toán thực tế đại trà đòi hỏi nhiều yếu tố hơn. Chúng tôi buộc làm sao để thiết kế một bo mạch "giá rẻ, dễ kiếm linh kiện, dễ gia công" nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và tính năng như phiên bản lab.
Cũng cần nhắc đến khoảng cách về tư duy. Khi nghiên cứu, mục tiêu có thể là có bài báo, bằng sáng chế, nghiệm thu đề tài, nhưng thương mại cần sản phẩm được bán ra thị trường, khách hàng hài lòng, doanh nghiệp có lợi nhuận. Tất cả quyết định kỹ thuật đều phải đặt câu hỏi: "Điều này có mang lại giá trị cho khách hàng không? Có tăng khả năng sản xuất không? Ghi phí bảo trì giảm không?".
- Trong quá trình thương mại hóa sáng chế, khó khăn lớn nhất thường là gì?
- Tôi nghĩ, đó là bài toán thị trường và hệ sinh thái sản xuất hỗ trợ cho giai đoạn trung gian. Công nghệ không phải rào cản "chí tử" bởi có thể học, mua, phát triển dần nếu chúng ta có đội ngũ tốt. Vốn đầu tư cũng quan trọng nhưng không phải vấn đề chính. Nếu vốn đổ vào nhưng không giải quyết bài toán thị trường và sản xuất thì cũng "đội nón" ra đi.
Bài toán thị trường mới là điểm nghẽn thực sự. Rất nhiều đề tài được sinh ra từ ý tưởng của nhà nghiên cứu, không phải từ nhu cầu thực tế. Kết quả là sản phẩm tạo ra rất hay, rất mới, nhưng doanh nghiệp lắc đầu "không mua". Nếu đáp ứng từ nhu cầu doanh nghiệp trước khi phát triển, mọi thứ sẽ thuận lợi hơn.
Khó khăn lớn hiện nay về thị trường nằm ở khâu "bắc cầu" giữa nghiên cứu trong trường và nhu cầu của doanh nghiệp, cùng hệ sinh thái sản xuất cho các lô hàng nhỏ. Nếu khâu "sản xuất thí điểm" được hỗ trợ tốt hơn, tôi tin số lượng sáng chế từ trường đại học được thương mại hóa thành công sẽ tăng rõ rệt.
- Ông đánh giá thế nào về tiềm năng thị trường AIoT và bán dẫn tại Việt Nam?
- Lĩnh vực này rất rộng, nhu cầu thực tế cao, đang thâm nhập vào đời sống và sản xuất. Tuy nhiên, tại Việt Nam, câu chuyện không phải "có cầu không" mà "ai đáp ứng được cầu với chi phí hợp lý".
Bán dẫn là mảnh đất màu mỡ nhưng đòi hỏi đầu tư lớn. Việt Nam đang được chọn là một trong những điểm đến hấp dẫn với sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Intel, Samsung, Amkor, Hana Micron. Nhưng với công ty Việt Nam, phân khúc thị trường "ngách" có tiềm năng hơn, đặc biệt về kiểm thử IC, phát triển chip RISC-V AIoT. Lĩnh vực này có nhu cầu lớn về công cụ thiết kế và thử nghiệm mạch, chip chuyên dụng (ASIC), tích hợp AI lên vi điều khiển (AI MCU) - phân khúc giá trị cao, phù hợp năng lực của các trường kỹ thuật và phòng thí nghiệm R&D.
Thế giới đang ở giai đoạn "chín muồi" về nhu cầu. Không dừng ở gia công, Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm R&D về AIoT và bán dẫn của khu vực thông qua làm chủ thiết kế, tích hợp và sản xuất sản phẩm giá trị cao.
- Doanh nghiệp cần làm gì để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho sinh viên và nhà nghiên cứu khi cùng tham gia phát triển?
- Đây là câu hỏi tế nhị và rất quan trọng. Trong mô hình hợp tác giữa trường đại học, sinh viên, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, câu chuyện sở hữu trí tuệ chưa bao giờ đơn giản và chưa có câu trả lời hoàn hảo. Mỗi bên tự bảo vệ mình theo cách riêng, và đôi khi có sự chênh lệch quyền lực giữa doanh nghiệp (có tiền) và trường đại học (có tri thức).
Vì thế, cần minh bạch ngay từ đầu. Nếu ba bên - doanh nghiệp, trường đại học và sinh viên/nhà nghiên cứu - có thể thương thảo công bằng và ký kết rõ ràng từ đầu, vấn đề sở hữu trí tuệ không còn là rào cản. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào "uy tín" hoặc "hứa miệng", rất dễ xảy ra tranh chấp, và người chịu thiệt thường là sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ.
- Sinh viên kỹ thuật Việt Nam mạnh ở điểm nào và còn thiếu kỹ năng gì để tham gia sâu hơn vào ngành bán dẫn?
- Sinh viên bán dẫn hiện trang bị nền tảng kiến thức khá vững về điện tử, vi xử lý, lập trình nhúng, mạch số, xử lý tín hiệu, không bị "bỡ ngỡ" khi làm quen các dự án thực tế. Họ cũng có tinh thần và thái độ ham học hỏi, đam mê công nghệ, sáng tạo và dám nghĩ dám làm cùng khả năng làm việc nhóm và chịu áp lực.
Tuy vậy, họ cũng có một số "lỗ hổng cần vá", như thiếu kỹ năng đọc hiểu tài liệu kỹ thuật tiếng Anh và datasheet, thiếu tư duy hệ thống và khả năng tối ưu toàn diện, kỹ năng lập trình và quản lý mã nguồn chưa bài bản, kiến thức thiết kế PCB và xử lý tín hiệu tương tự còn yếu, thiếu kinh nghiệm lựa chọn linh kiện, trong khi kiến thức về AI nâng cao chưa sâu.
Những kỹ năng này chỉ có thể rèn luyện qua dự án thực tế, dài hơi, gắn với doanh nghiệp, và có sự hướng dẫn sát sao từ giảng viên, kỹ sư giàu kinh nghiệm.
- Việt Nam đang thúc đẩy ngành bán dẫn, ông đánh giá vai trò của các trung tâm nghiên cứu đặt trong trường đại học quan trọng ra sao?
- Đây sẽ là "hạt nhân" của hệ sinh thái, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn. Họ là cầu nối đưa chính sách vào phòng thí nghiệm, biến chủ trương thành sản phẩm, là "cánh tay nối dài R&D" của doanh nghiệp, giúp nội địa hóa công nghệ, giảm nhập khẩu, tăng hàm lượng trí tuệ Việt trong sản phẩm. Họ cũng là "cửa khẩu công nghệ" giúp kết nối Việt Nam với các trung tâm bán dẫn, trường đại học trên thế giới.
Trong bối cảnh Chính phủ triển khai nhiều quyết định cho khoa học công nghệ, như Quyết định 1018 về Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, Quyết định 1017 về Phát triển nguồn nhân lực bán dẫn hay Nghị quyết 57, các mục tiêu chỉ có thể thành hiện thực nếu có những đơn vị hấp thụ và triển khai.
Tôi cũng kỳ vọng lớn vào Kết luận số 51 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Là người trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm từ phòng thí nghiệm, đây là "bảo chứng" cho tương lai của người làm nghiên cứu ứng dụng như chúng tôi, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc coi tài sản trí tuệ là động lực cho tăng trưởng mới.
Nguồn: VnExpress Số hóa
Chuyên mục: AI
Lĩnh vực bán dẫn cần có sự thực chiến từ giảng đường với sinh viên và giảng viên là nòng cốt, doanh nghiệp hỗ trợ, theo TS Nguyễn Văn Thái.
TS Nguyễn Văn Thái, nhà sáng lập và CEO AIoT-Semiconductor, công ty nghiên cứu thiết kế chip và phát triển giải pháp phần cứng công nghệ cao. Ông cũng là giảng viên và đảm nhiệm một số vai trò chuyên trách về bán dẫn tại Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM (HCM-UTE). TS Thái chia sẻ với VnExpress về vai trò của sinh viên, giảng viên khi tham gia nghiên cứu, sáng chế và thương mại hóa sản phẩm dựa trên nhu cầu doanh nghiệp.
- Vì sao AIoT Semiconductor chọn hướng thương mại hóa nghiên cứu từ trường học? Câu chuyện bắt đầu từ đâu?
- Chúng tôi không phải đơn vị "đi khắp các trường" để tìm kiếm sáng chế rồi đem đi thương mại hóa, mà bắt đầu từ chính nhu cầu thực tế giữa doanh nghiệp - nhà trường. Rất nhiều công ty có bài toán về AI, IoT, bán dẫn nhưng chưa có đội ngũ R&D để giải quyết. Trong khi đó, nhiều trường đại học, chẳng hạn HCM-UTE có đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên rất giỏi lý thuyết nhưng thiếu cơ hội chạm vào vấn đề thực tế.
AIoT-Semiconductor ra đời năm 2014, ban đầu tên 3DVisionLab, Đến 2024, công ty đổi sang tên hiện tại và thuộc HCM-UTE. Chúng tôi đóng vai trò trung gian kết nối và thực thi: nhận bài toán đặt hàng với nhu cầu thực tiễn từ doanh nghiệp, đưa vào phòng thí nghiệm để cùng giảng viên, kỹ sư, sinh viên giải quyết. Sản phẩm tạo ra từ các đề tài này giúp giải bài toán doanh nghiệp và được thương mại hóa ngay trên thị trường đó, vừa giúp nghiên cứu đi vào thực tế, vừa tạo nguồn thu và cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Công ty lựa chọn đề tài, sáng chế tiềm năng từ sinh viên và giảng viên thế nào?
- Có hai kịch bản. Sinh viên hoặc giảng viên có đề tài nghiên cứu, nếu vô tình trùng hoặc gần với nhu cầu thực tế doanh nghiệp đối tác đang tìm kiếm, chúng tôi đứng ra làm cầu nối tiếp nhận và hoàn thiện ý tưởng.
Kịch bản thứ hai phổ biến hơn: doanh nghiệp có bài toán thực tế và đặt hàng. Chúng tôi sẽ huy động nhân lực để hoàn thiện sản phẩm theo yêu cầu kỹ thuật, độ ổn định, chi phí sản xuất, thời gian hoàn thành trước khi bàn giao. Doanh nghiệp là bên chủ động tự thương mại hóa sản phẩm hoặc tích hợp vào hệ thống của họ.
Chúng tôi đã phát triển và chuyển giao thành công hơn 40 sản phẩm, giải pháp, dự án R&D cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, ứng dụng đa dạng lĩnh vực, như bán dẫn và kiểm thử IC, vi xử lý lõi mở RISC-V, vi điều khiển công nghiệp và HVAC, năng lượng, nông nghiệp thông minh, giáo dục, y tế.
Một sản phẩm khác đã được chuyển giao và được doanh nghiệp đưa ra thị trường là bo mạch điều khiển cho hệ thống thiết bị phòng thí nghiệm, y sinh của LABone. Chúng tôi đã hợp tác trong thời gian dài để tạo bo mạch điều khiển, firmware và phần mềm cho nhiều dòng sản phẩm với tính chuyên môn cao, yêu cầu độ chính xác và ổn định lớn.
- Thuận lợi và khó khăn khi phát triển và hoàn thiện sản phẩm là gì?
- Nguồn lực con người dồi dào từ chính môi trường HCM-UTE là yếu tố thuận lợi, với đội ngũ giảng viên chuyên môn sâu, giàu kinh nghiệm, sẵn sàng đồng hành cùng dự án thực tế, sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học, nhiều em rất giỏi và quyết tâm làm việc trên những bài toán thực của doanh nghiệp.
Không chỉ HCM-UTE, tôi tin các giảng đường tại Việt Nam đang có những "bể nhân tài" - nguồn nhân lực chất lượng cao để vừa đào tạo, nghiên cứu, vừa sản xuất ra những sản phẩm chất lượng.
Khó khăn cũng rất nhiều. Chúng tôi thiếu nguồn cung linh kiện điện tử chính hãng. Các dòng chip, vi điều khiển, IC chuyên dụng thường xuyên thiếu hàng, thời gian chờ có khi đến 6-12 tháng, trong khi chưa có công ty nào ở Việt Nam cung cấp đầy đủ tất cả danh mục linh kiện điện tử chính hãng.
Hệ quả là thời gian phát triển sản phẩm kéo dài hơn dự kiến, chi phí phát sinh do phải nhập linh kiện lẻ, thậm chí tạm dừng giữa chừng do thiếu linh kiện thay thế.
- Đâu là khoảng cách lớn nhất giữa một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và một sản phẩm có thể đưa ra thị trường?
- Vấn đề lớn nhất liên quan đến "nghiên cứu để công bố" và "nghiên cứu để sản xuất được". Có nhiều đề tài hoạt động tốt trong phòng lab sau 3-5 lần nghiệm thu, nhưng khi gắn vào hệ thống thực tế lại "chết ngay" vì nhiễu, vì nguồn, vì tay người dùng không đúng quy trình.
Với chi phí và linh kiện, ở phòng thí nghiệm, linh kiện sử dụng đạt tiêu chuẩn cao, nhưng bài toán thực tế đại trà đòi hỏi nhiều yếu tố hơn. Chúng tôi buộc làm sao để thiết kế một bo mạch "giá rẻ, dễ kiếm linh kiện, dễ gia công" nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và tính năng như phiên bản lab.
Cũng cần nhắc đến khoảng cách về tư duy. Khi nghiên cứu, mục tiêu có thể là có bài báo, bằng sáng chế, nghiệm thu đề tài, nhưng thương mại cần sản phẩm được bán ra thị trường, khách hàng hài lòng, doanh nghiệp có lợi nhuận. Tất cả quyết định kỹ thuật đều phải đặt câu hỏi: "Điều này có mang lại giá trị cho khách hàng không? Có tăng khả năng sản xuất không? Ghi phí bảo trì giảm không?".
- Trong quá trình thương mại hóa sáng chế, khó khăn lớn nhất thường là gì?
- Tôi nghĩ, đó là bài toán thị trường và hệ sinh thái sản xuất hỗ trợ cho giai đoạn trung gian. Công nghệ không phải rào cản "chí tử" bởi có thể học, mua, phát triển dần nếu chúng ta có đội ngũ tốt. Vốn đầu tư cũng quan trọng nhưng không phải vấn đề chính. Nếu vốn đổ vào nhưng không giải quyết bài toán thị trường và sản xuất thì cũng "đội nón" ra đi.
Bài toán thị trường mới là điểm nghẽn thực sự. Rất nhiều đề tài được sinh ra từ ý tưởng của nhà nghiên cứu, không phải từ nhu cầu thực tế. Kết quả là sản phẩm tạo ra rất hay, rất mới, nhưng doanh nghiệp lắc đầu "không mua". Nếu đáp ứng từ nhu cầu doanh nghiệp trước khi phát triển, mọi thứ sẽ thuận lợi hơn.
Khó khăn lớn hiện nay về thị trường nằm ở khâu "bắc cầu" giữa nghiên cứu trong trường và nhu cầu của doanh nghiệp, cùng hệ sinh thái sản xuất cho các lô hàng nhỏ. Nếu khâu "sản xuất thí điểm" được hỗ trợ tốt hơn, tôi tin số lượng sáng chế từ trường đại học được thương mại hóa thành công sẽ tăng rõ rệt.
- Ông đánh giá thế nào về tiềm năng thị trường AIoT và bán dẫn tại Việt Nam?
- Lĩnh vực này rất rộng, nhu cầu thực tế cao, đang thâm nhập vào đời sống và sản xuất. Tuy nhiên, tại Việt Nam, câu chuyện không phải "có cầu không" mà "ai đáp ứng được cầu với chi phí hợp lý".
Bán dẫn là mảnh đất màu mỡ nhưng đòi hỏi đầu tư lớn. Việt Nam đang được chọn là một trong những điểm đến hấp dẫn với sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Intel, Samsung, Amkor, Hana Micron. Nhưng với công ty Việt Nam, phân khúc thị trường "ngách" có tiềm năng hơn, đặc biệt về kiểm thử IC, phát triển chip RISC-V AIoT. Lĩnh vực này có nhu cầu lớn về công cụ thiết kế và thử nghiệm mạch, chip chuyên dụng (ASIC), tích hợp AI lên vi điều khiển (AI MCU) - phân khúc giá trị cao, phù hợp năng lực của các trường kỹ thuật và phòng thí nghiệm R&D.
Thế giới đang ở giai đoạn "chín muồi" về nhu cầu. Không dừng ở gia công, Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm R&D về AIoT và bán dẫn của khu vực thông qua làm chủ thiết kế, tích hợp và sản xuất sản phẩm giá trị cao.
- Doanh nghiệp cần làm gì để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho sinh viên và nhà nghiên cứu khi cùng tham gia phát triển?
- Đây là câu hỏi tế nhị và rất quan trọng. Trong mô hình hợp tác giữa trường đại học, sinh viên, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, câu chuyện sở hữu trí tuệ chưa bao giờ đơn giản và chưa có câu trả lời hoàn hảo. Mỗi bên tự bảo vệ mình theo cách riêng, và đôi khi có sự chênh lệch quyền lực giữa doanh nghiệp (có tiền) và trường đại học (có tri thức).
Vì thế, cần minh bạch ngay từ đầu. Nếu ba bên - doanh nghiệp, trường đại học và sinh viên/nhà nghiên cứu - có thể thương thảo công bằng và ký kết rõ ràng từ đầu, vấn đề sở hữu trí tuệ không còn là rào cản. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào "uy tín" hoặc "hứa miệng", rất dễ xảy ra tranh chấp, và người chịu thiệt thường là sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ.
- Sinh viên kỹ thuật Việt Nam mạnh ở điểm nào và còn thiếu kỹ năng gì để tham gia sâu hơn vào ngành bán dẫn?
- Sinh viên bán dẫn hiện trang bị nền tảng kiến thức khá vững về điện tử, vi xử lý, lập trình nhúng, mạch số, xử lý tín hiệu, không bị "bỡ ngỡ" khi làm quen các dự án thực tế. Họ cũng có tinh thần và thái độ ham học hỏi, đam mê công nghệ, sáng tạo và dám nghĩ dám làm cùng khả năng làm việc nhóm và chịu áp lực.
Tuy vậy, họ cũng có một số "lỗ hổng cần vá", như thiếu kỹ năng đọc hiểu tài liệu kỹ thuật tiếng Anh và datasheet, thiếu tư duy hệ thống và khả năng tối ưu toàn diện, kỹ năng lập trình và quản lý mã nguồn chưa bài bản, kiến thức thiết kế PCB và xử lý tín hiệu tương tự còn yếu, thiếu kinh nghiệm lựa chọn linh kiện, trong khi kiến thức về AI nâng cao chưa sâu.
Những kỹ năng này chỉ có thể rèn luyện qua dự án thực tế, dài hơi, gắn với doanh nghiệp, và có sự hướng dẫn sát sao từ giảng viên, kỹ sư giàu kinh nghiệm.
- Việt Nam đang thúc đẩy ngành bán dẫn, ông đánh giá vai trò của các trung tâm nghiên cứu đặt trong trường đại học quan trọng ra sao?
- Đây sẽ là "hạt nhân" của hệ sinh thái, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn. Họ là cầu nối đưa chính sách vào phòng thí nghiệm, biến chủ trương thành sản phẩm, là "cánh tay nối dài R&D" của doanh nghiệp, giúp nội địa hóa công nghệ, giảm nhập khẩu, tăng hàm lượng trí tuệ Việt trong sản phẩm. Họ cũng là "cửa khẩu công nghệ" giúp kết nối Việt Nam với các trung tâm bán dẫn, trường đại học trên thế giới.
Trong bối cảnh Chính phủ triển khai nhiều quyết định cho khoa học công nghệ, như Quyết định 1018 về Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, Quyết định 1017 về Phát triển nguồn nhân lực bán dẫn hay Nghị quyết 57, các mục tiêu chỉ có thể thành hiện thực nếu có những đơn vị hấp thụ và triển khai.
Tôi cũng kỳ vọng lớn vào Kết luận số 51 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Là người trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm từ phòng thí nghiệm, đây là "bảo chứng" cho tương lai của người làm nghiên cứu ứng dụng như chúng tôi, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc coi tài sản trí tuệ là động lực cho tăng trưởng mới.
Nguồn: VnExpress Số hóa
Chuyên mục: AI